Tổng số lượt xem trang

Thứ Bảy, 23 tháng 4, 2011

Báo Lao Động ngày 21/09/2009 viết về phá lôi

Họ đã từng phá thủy lôi...

Xem tin gốc

Lao Động - 19 tháng trước 99 lượt xem 1 tin đăng lại

Ho da tung pha thuy loi...

Câu chuyện của ông Nguyễn Thành Long, Hồ Văn Hiệu - hai trong số gần 50 người từng tham gia hai đội phá thủy lôi "Quyết Thắng" và "Lê Mã Lương" - tiểu đoàn tự vệ Ty Bảo đảm hàng hải (Ty BĐHH) - ví như hai lát cắt mỏng trong bề dày 55 năm truyền thống ngành bảo đảm hàng hải Việt Nam...

Ông Nguyễn Thành Long, Hồ Văn Hiệu hiện nay.

(LĐCT) -

Sáng chủ nhật 19.9.2009, vài phút trước khai mạc Đại hội lần thứ I Hội KH-KT và Kinh tế biển TPHCM, ông Đỗ Thái Bình - Ủy viên Ban Thường vụ hội, Giám đốc Cty Semaser - giới thiệu tôi với ông Long, ông Hiệu, nói: "Cuộc chiến chống phong tỏa thủy lôi tại Hải Phòng những năm 1967-1972 ít người biết tới".

Ông Long, ông Hiệu khẽ nói: "Người của ngành BĐHH quan sát, đánh dấu được 6798 quả thủy lôi, rà phá nổ 1098 quả, tháo gỡ 18, đội phá lôi bảo đảm công việc gần như an toàn tuyệt đối, trong 12 người hy sinh của ngành BĐHH, không có người của đội... Mấy chục năm, người còn, người mất. Một số hiện sống ở Hà Nội, Hải Phòng, TPHCM...".

"Thủy lôi chưa sạch, chưa về quê hương"

Tạp chí Hảng hải VN số 4/2005, tờ giấy Cty BĐAT HH I xác nhận: "Ông Nguyễn Thành Long (1941, Thái Bình) nguyên CBCNV Ty BĐHH là chiến sĩ tự vệ thuộc đơn vị tập trung chiếu đấu phá lôi Quyết Thắng - tiểu đoàn Tự vệ BĐHH, tham gia chiến đấu trên các mặt trận chống phong tỏa đường biển trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ" - món giấy tờ, ông Long giữ cực kỳ cẩn thận.

Năm 2007, tại cảng Koshoki (Nhật Bản), ông Long thấy trên báo tấm hình mình và đồng đội trên tàu phá lôi Tankist 160 chụp năm 1972. TK160 do Nga sản xuất, còn gọi là tàu há mồm, thân tàu hai vỏ, đã được đội Quyết Thắng cải tiến bằng cách đưa cụm phá lôi ra đuôi tàu, thuyền trưởng là Lê Đình Kính, ông Long là đại đội phó. Mỗi lần nhìn ảnh, ký ức ùa về tâm trí ông Long...

Ty BĐHH là đơn vị chịu trách nhiệm chính quản lý hệ thống luồng vận tải từ Vĩnh Thực (Quảng Ninh) vào Quảng Bình. Tiền thân đội rà phá lôi là đội trục vớt. Tại miền Bắc, 1967-1972, Mỹ tiến hành hai cuộc phong tỏa cửa sông cửa biển, đợt một - 1967-1968, đợt hai - 1972-1973, thả hơn 17.000 thủy lôi, bom từ trường; công binh quân đội chủ lực rà phá 3908 quả, dân quân tự vệ phá 9940 quả.

Ngày 5.8.1964, Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc. Hải Phòng - nơi tập trung cảng biển, đường sắt, đường bộ, cửa ngõ VN tiếp nhận viện trợ thế giới, chi viện bằng đường biển cho chiến trường miền Nam - là mục tiêu đánh phá dữ dội của máy bay Mỹ.

Tháng 2.1967, Mỹ bắt đầu chiến dịch phong tỏa Hải Phòng bằng thủy lôi, tháng 3, Hải quân VN (HQ VN) tháo gỡ được thủy lôi MK 50, MK 52, phương pháp rà phá thủy lôi lúc này đơn giản, thô sơ.

8.1967, Mỹ bắt đầu ném bom phong tỏa Hải Phòng. Những cán bộ, người thợ Ty BĐHH lập tức bắt tay vào cuộc chiến. Đội Quyết Thắng có 30 người, có người viết đơn xin vào đội bằng máu, đội trưởng là Nguyễn Thái Phong, sau này được anh em phong danh hiệu "Vua phá lôi", đội nhận được sự giúp đỡ của C8 Hải quân, cụ thể là Trương Thế Hùng - chuyên gia phá thủy lôi của HQ VN. HQ VN lúc đó đã chế tạo được một số thiết bị rà phá thủy lôi có hiệu quả, trong đó có thiết bị TĐ 671. Sau, thiết bị TĐ 671 được nâng cấp 673 và hoàn chỉnh là 678 rà phá thành công các loại bom định lần, bom chấn động, bom che khuất ánh sáng, bom từ trường MK 52 - sức công phá cực lón, bằng 500kg bảng Anh thuốc nổ DKT.

"Người lái canô thử nghiệm phá lôi là anh Lê Văn Lợi, ba lần trước khi anh đi, đội đều truy điệu sống. Anh dũng cảm nói, tôi đi, có chết, chết một mình. Lúc đó, đội viên của đội có lời thề "Ra đi mang nặng lời thề/ Thủy lôi chưa sạch, chưa về quê hương", chiến đấu với tinh thần tràn đầy khí thế giải phóng miền Nam, hòa bình cho miền Bắc. Thủy lôi nổ ngay hông tàu, cột nước trùm cao to như cây cổ thụ, mọi người quên sợ hãi, bình tĩnh điều khiển tàu, phóng từ, diệt thủy lôi - "kẻ thù giấu mặt".

Việc rà phá thường tiến hành ban đêm, sau 17 giờ. Lên tàu, ai nấy vào vị trí, bộ phận điện, đóng cầu dao kích từ, phóng từ... Tàu phá lôi đi chậm, 3-4 hải lý/giờ, tiến lùi, mọi người phải ngồi trên săm caosu bơm không quá căng, để giảm chấn. Rà quét các luồng, luồng Nam Triệu rất khó vì rộng mênh mang" - ông Long nhớ lại.

"Không thể không nhớ tới những đồng đội - những người dân quân tự vệ ở các trạm quan sát thủy lôi, đặc biệt ở "Miếu ba cô" với cô Huê, Vây, Kim ở Hoàng Châu (Cát Hải) - chuyên làm nhiệm vụ đếm bom rơi đánh dấu vào hải đồ. Sau khi phá lôi, chúng tôi so sánh giữa số quả đã đếm được và số quả đã bị phá để biết mức hoàn thành công việc tới đâu..." - ông Long nói.

Thuyền gỗ phá thủy lôi

Sáng chủ nhật 4.10, ông Hiệu mời tôi đến nhà "để chị thấy hình con thuyền gỗ, một phương tiện phá lôi độc đáo của ta". Di động của ông Hiệu reo. Từ Hà Nội, ông Nguyễn Xuân Tám - nguyên bí thư đoàn thanh niên đội Lê Mã Lương gọi điện hỏi thăm.

"Trong thành tích của đội phá lôi, có công của nhiều người, các nhà khoa học, những người ở trạm quan sát, phát hiện thủy lôi như anh Phúc, tổ điện với những nữ công nhân cuốn từ như cô Huệ - vợ anh Hiệu, bao nhiêu người góp sức vào... Chúng tôi chỉ là những người bấm nút, làm động tác chiến đấu cuối cùng thôi", ông Tám nói.

Là ông Tám khiêm tốn nói vậy! Tất cả chiến sĩ đội phá lôi đều là quân cảm tử! Tìm hiểu thêm từ nhiều nguồn, tôi được biết, quét lôi mở đường thông tuyến biển gian khổ chẳng kém gì phá bom trên đường mòn Hồ Chí Minh.

Cao điểm cuộc chiến phá lôi là năm 1972. Ngày 16.4.1972, Mỹ đánh phá trở lại cảng Hải Phòng. Từ Hạm đội 7 đậu ngoài khơi, máy bay Mỹ chỉ bay vào, thả bom vào ban đêm. Đội thanh niên xung kích phá lôi Lê Mã Lương thành lập ngày 30.5.1972. Huấn luyện nghiệp vụ cho đội là "Vua phá lôi" Thái Phong. Đại bản doanh của đội ở hang Trinh Nữ - Hạ Long.

Ông Hiệu nhớ lại: "Chỉ 4/36 người của đội từng phá lôi. Đội có những nhân vật đặc biệt như anh Chí, một tay lái cừ. Anh vô cùng dũng cảm, thông thạo luồng lạch, dẫn tàu ra đảo an toàn. Chúng tôi đi đánh lôi không được nói trước, ngay cả công an vũ trang cũng không biết thuyền chúng tôi là thuyền phá lôi vì phải phòng ngừa gián điệp. Bối cảnh chung năm 1972, đánh lôi ban đêm không đủ, do đó, lãnh đạo Ty BĐHH đưa ra quyết định đánh cả vào ban ngày.

Chiến sĩ phá lôi đội Quyết Thắng trên tàu Tankist 160 (11.1972). Ảnh tư liệu của ông Nguyễn Thành Long.

Để không bị lộ, anh Vũ Long Vân - nguyên Phó Ty BĐHH - đưa sáng kiến sử dụng thuyền gỗ gọn nhẹ, cơ động, phủ lá ngụy trang, giả thuyền đánh cá của ngư dân, đặt tên là Thanh niên 2 (TN2), thiết bị phá lôi để trong mui thuyền che thấp, có những lần ra trận, trên thuyền có 4 người là anh Yên, Khoát, Báo và tôi - phụ trách máy phóng từ".

Ông Hiệu là con em Việt kiều về từ Tân Đảo năm 1964 theo lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch, từng học trường Bách nghệ ở Tân Đảo, giỏi cơ khí, nên trong cuộc chiến phá lôi, ông cũng góp được sáng kiến đơn giản nhưng hiệu quả như cắm ngược cuộn dây từ để tầm với của thiết bị xa hơn, bình thường thiết bị đánh lôi xa 50-70m (tiêu chuẩn kỹ thuật an toàn), nhưng thiết bị TN2 có thể đánh lôi cách 100-150m. TN2 chạy liên tục từ 9.1972 đến cuối 1973. Có những trận, trong một ngày, TN2 phá được 6-7 quả lôi.

Kỷ niệm không sao quên của ông Hiệu là trận đánh đầu tháng 9.1972 tại ngã ba Quả Xoài - "cuống họng" thông Hải Phòng, Quảng Ninh, Hà Nội, nơi được mệnh danh là "Ngã ba Đồng Lộc trên biển". Đêm 30.8.1972, tàu Hoa tiêu 1, trong lúc rà quét luồng Quả Xoài, thủy lôi nổ dưới bụng tàu, ông Hiệu bị thương tay phải, cột sống bị ép.

7 ngày sau, cũng tại Quả Xoài, tàu TN1 trúng lôi, dù bị thương lần thứ hai ở cột sống, ông Hiệu kịp nhảy xuống biển cứu sống người đội trưởng Nguyễn Uyển bị thương nặng, hôm đó, TN1 phá được 5 quả lôi.

Ngay hôm sau, trên TN2, ông Hiệu cùng 3 anh em khác phá nổ hàng loạt lôi, làm sạch luồng để tàu đưa hàng về cảng Hải Phòng. Đó là một trong những chiến công đáng nhớ của đội Lê Mã Lương.

"Cuối 1972, chúng tôi tiến ra giải phóng luồng Đông Bắc giáp biển Trung Quốc. Tôi tự hào vì đã góp phần làm sạch lôi ở hầu hết những điểm quan trọng trong vùng danh thắng vịnh Hạ Long. Ngày 27.1.1973, trên tàu, ở Quảng Bình, nghe Hiệp định Paris ngừng bắn ở Việt Nam được ký, tôi mừng phát khóc" - ông Hiệu nói.

Trở về làm người thợ, thủy thủ...

"5.2.1973, thực hiện những điều khoản giải quyết hậu quả chiến tranh của Hiệp định Paris, biên đội đặc nhiệm 78 vớt mìn của hải quân Mỹ đến Hải Phòng, với 44 tàu chiến, tàu quét mìn các loại, hơn 5000 lính, biên đội tập kết ở gần đảo Long Châu (Hải Phòng). Sau 5 tháng, tàu Mỹ chỉ phá được 3 quả lôi ở luồng Nam Triệu" - ông Long nhớ lại. Tiểu đoàn Tự vệ BĐHH sau chiến tranh được phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT, Ty BĐHH là một trong 77 đơn vị được tặng Huân chương Hồ Chí Minh đợt đầu.

Tháng 5.1978, ông Long là một trong 60 người được chọn cử vào TPHCM với nhiệm vụ tăng cường lực lượng sĩ quan cho miền Nam chống vượt biên, sau đó đi tàu chi viện cho chiến trường Campuchia năm 1979, rồi về làm ở Cty Vận tải và Thuê tàu biển Việt Nam. 5.1973, hoàn thành nhiệm vụ, ông Hiệu về làm thợ như cũ. 10.1978 ông Hiệu vào TPHCM trong lực lượng tăng cường cho ngành BĐHH. Ông là người đầu tiên, sau giải phóng, đi thay đèn cho hải đăng ở hòn Khoai, hòn Bảy Cạnh, mũi Kê Gà,...

Ông Hiệu cũng đi tàu tới khá nhiều nước. "Đi biển nhiều, các ông thấy trình độ, khả năng đi biển của chúng ta ra sao?" - chúng tôi hỏi. Hai ông cho biết: "Người ta nói nhiều tới chuyện thế kỷ 21 - thế kỷ của đại dương. VN có trên 1 triệu kilômét vuông mặt biển với hơn 3200km đường biển - điều kiện lý tưởng để phát triển ngành hàng hải! Bên cạnh thành tích như hiện đại hóa 40 tuyến luồng tàu biển quốc gia có tổng độ dài 750km, đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật của Tổ chức Hàng hải Quốc tế,.. không thể không nhắc tới những tai nạn gây thiệt hại nghiêm trọng về người, tài sản, môi trường biển, do nhiều nguyên nhân, như một số vụ gần đây.

Theo chúng tôi, quan trọng là việc đào tạo con người đi biển. Kêu gọi, kích thích tình yêu biển là đúng, nhưng đào tạo một lớp người mới đi biển, phải chú trọng phát triển thể chất, sức chịu đựng tốt, vững nghề, ý thức kỷ luật, trách nhiệm cao. Hiểu, yêu biển, yêu Tổ quốc không chỉ là ở những khẩu hiệu, lời hô hào...".

Ghi chép của Lâm Tuyền

Phản ứng của giáo sư Vũ đình cự về cuộc họp của tạp chí Tia Sáng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập-Tự do-Hạnh Phúc

Hà Nội ngày 03 tháng 9 năm 2008

Kính gửi BỘ TRƯỞNG BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ -HOÀNG VĂN PHONG

Tôi được biết ngày 29/08/2008 vừa qua,Tạp chí Tia Sáng của Bộ ta có tổ chức một buổi tọa đàm về vấn đề có liên quan đến đơn vị GK 1 của Đại học Bách Khoa Hà Nội mà tôi được cử làm Trưởng đơn vị.

Trong buổi tọa đàm ,Tạp chí Tia Sáng có mời một người tên là Đỗ Thái Bình trình bày về rà phá thủy lôi từ tính và bom từ trường,việc mà ông Bình không hề tham gia bao giờ.Nhưng ông Bình lại đưa ra ý kiến,chủ yếu của buổi tọa đàm ,là GK 1 tranh mất công của ngành đường biển về phá thủy lôi cuối năm 1972.

Vì tôi và các nhà khoa học GK 1 không được mời dự nên không có ai vạch được điều xuyên tạc cố ý của ông Bình.

Đơn vị GK 1 với trên 10 nhà khoa học hàng đầu tham gia đã có đóng góp tích cực vào nghiên cứu cơ bản cho việc rà phá thủy lôi từ tính và bom từ trường giai đoạn 1972-1973.Đơn vị đã được Bộ trưởng Đại học lúc bấy giờ là cố GS Tạ Quang Bửu theo dõi và xem xét kỹ các kết quả.Bộ trưởng đã đề nghị Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng lúc đó khen thưởng 6 Huân chương Chiến công và nhiều bằng khen cho tập thể GK 1 và cho các các cá nhân,ngay đầu năm 1973,GK 1 cũng có tên cùng chung với nhiều đơn vị khác trong Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1.

Tôi đề nghị Bộ trưởng tạo điều kiện để đơn vị GK 1 chúng tôi được nói rõ sự thực vạch ra điều xuyên tạc xấu xa ,trong một buổi tọa đàm khác của Bộ.

Đảng vừa ra Nghị quyết về xây dựng đội ngũ trí thức .Không lẽ đơn vị trí thức Bách Khoa chúng tôi lại bị người xấu lợi dụng tiền bạc và báo chí để trấn áp và bôi nhọ ngay giữa Thủ đô này ?

Rất mong Bộ trưởng quan tâm giải quyết đơn,chúng tôi xin chân thành cảm ơn

ĐẠI DIỆN GK1

GS Vũ đình Cự

Nơi gửi

-như trên

-b/c Dương Trung Quốc để biết

Cuộc hội thảo mini về phá lôi vào tháng 10/2007 tại Hải Phòng

Tóm tắt cuộc Hội Thảo mini về “Chống Phong

Tỏa “ của ngành Đường Biển

Thành phần :

1/Lê Văn Kỳ

2/Trần Văn Chấp

3/Nguyễn Ngọc Linh

4/Nguyễn Thái Phong

5/Trần Công Chánh

6/Trầncông Hợp

7/Nguyễn Hữu Bảo từ thứ sáu

Thư ký hội thảo :

1/Đỗ Thái Bình

2/Huỳnh Thanh Bình báo Tuổi Trẻ

Việc ghi chép thực hiện bằng ghi âm,máy quay Camcorder Canon 7R65 MC,chụp hình kiêm ghi hình Fujifilm A 345.Các tài liệu cũ do Lê Văn Kỳ lưu giữ được scan bằng máy scan Canoscan Lide 20

Lịch làm việc :

Thứ hai 29/10/07 –làm việc tại Hội trường Cty Bảo Đảm An toàn Hàng Hải

Thứ ba 30/10/07 –như trên

Thứ tư 31/11/07-như trên

Thứ năm 01/11/07-thăm Bảo Tàng Hải Quân và Bảo Tàng Quân Khu III

Thứ sáu 02/11/07-thăm Bảo Tàng Công Binh và Bảo Tàng Quân Sự tại Hà Nội

Thứ bảy 03/11/07 sáng –làm việc với Bảo Tàng Hải Quân và Bảo Tàng Hải Phòng-Chiều –Bảo Tàng Hòn Dấu

Chủ nhật 4/11/07-sáng –Phong,Bình DT và Bình HT làm việc tại Hòn Dấu

Thứ hai 05/11/07 –sáng gặp cô gái đếm bom và ông Phúc

Tài liệu được ghi trên 2 ổ USB

-Ổ 1 –pic và video :các files hình ảnh và âm thanh ghi bằng máy chụp và ghi hình Fujifilm A 345

-Ổ 2 gồm:

-các files hình ảnh được scan từ các hình cũ trong cặp của LV Kỳ và các ảnh tại Hòn Dấu

-các files scan lại các văn bản .Riêng tài liệu của Nguyễn Khóai được lập một folder riêng

-các files ghi âm trong folder voice

-các files video quay bằng Camcorder Canon

Nguyễn Hữu Bảo nói chuyện về phá lôi

Trong một lần tại nhà riêng,Nguyễn hỮu Bảo kể lại một số tình tiết về Phạm Thanh Bình,về phá lôi

Đi thăm Hòn Dấu với các chứng tích phá lôi




Lục kho tư liệu tại nhà cụ Lê Văn Kỳ

Clip ngắn sau đây ghi lại Thái Phong và Nguyễn Văn Linh lục kho tư liệu tại nhà cụ Lê Văn Kỳ

Và các hình chụp vào sáng ngày 09/11/2007 tại nhà cụ Kỳ được lưu trong clip sau đây:

Ngô Lực Tải viết về Phá Lôi

Sau đây là bút tích của nguyên thuyền trưởng họ Ngô viết về công cuộc Phá Lôi :

Những hiểu biết về thủy lôi

Hình bên-Cơ cấu thủy áp (nước ép)
Để tìm hiểu một cách có hệ thống về thủy lôi chúng tôi có sưu tầm được các tài liệu sau đây:
1/Chương Thủy Lôi (Mines) trong cuốn sách của Mỹ.Chương này có 21 trang
sau phần nhập đề là giới thiệu thủy lôi lần lượt của các nước theo thứ tụ ABC:Brazil,Bulgaria,Trung Quốc,Đức,Ấn Độ,Ý,New Zealand,Rumani,Nga,Serbi,Nam Phi,Tây Ban Nha,Thụy điển,Anh,Mỹ.Xin bấm vào đây để đọc hay download
2/Chuyên đề về thủy lôi của Trung Quốc.Cuốn "Kỹ thuật tổng quát về thủy lôi"do Xà Hồ Thanh chủ biên,Nhà Xuất Bản Công Nghiệp Quốc Phòng xuất bản năm 2009 ,trong các tác giả có kỹ sư họ Tôn đã tham gia trong Đội phá lôi của Trung Quốc sang Việt Nam năm 1972.Hình bên phải là màng thủy áp (màng nước ép) tại trang 65 của cuốn sách này .Sau đây chúng tôi dịch bảng nội dung của cuốn sách .chúng tôi sẽ treo bản pdf miễn phí trên mạng
Chương 1-Khái niệm chung
1.1.Vũ khí thủy lôi
1.2.Nhiệm vụ tác chiến củ thủy lôi
1.3.Phân loại và các thành phần cơ bản của thủy lôi
1.3.1.Mìn đáy và các thành phần cơ bản
1.3.2.Mìn neo và các thành phần cơ bản
1.3.3.Mìn nổi
1.3.4.Các loại thủy lôi chủ động tấn công hiện đại
1.4.Bộ phận chiến đấu
1.5. Các yêu cầu cơ bản
Chương 2-Thân thủy lôi và neo
2.1.Thân thủy lôi
2.1.1.Tải trọng tính toán của thân thủy lôi chịu ép
2.1.2.Tính toán sức bền và kiểm tra
2.1.3.Tính ổn định của thân thủy lôi
2.1.4.Thiết kế tối ưu
2.1.5.Thiết kế độ tin cậy cỷa thân thủy lôi
2.2.Thiết kế kết nối và làm kín
2.2.1.Phân chia các bộ phận của thủy lôi và kết nối lại
2.2.2.Thiết kế lỗ thao tác
2.2.3.Thiết kế là mkín
2.2.4.Phân chia thủy lôi
2.3.Bố trí và triển khai các sensor và array (cơ trận)
2.3.1.Lắp đặt sensor độ sâu
2.3.2.Bố trí các array âm thanh thông thường
2.3.3.Triển khai các array và anten âm thanh
2.3.4.Bố trí và triển khai các sensor điện trường
2.3.5.Bố trí các sensor vectro âm thanh
2.4.Mìn neo
2.4.1.Những yêu cầ uvới mìn neo
2.4.2.Ứng lực của mìn neo
2.4.3.Lực bá mcủa mìn neo
Chương 3-Thuốc nổ và kích nổ
3.1.Thuốc nổ
3.1.1.Xác định lượng thuốc nổ
3.1.2.Nổ dưới nước và lực phá hoại khi nổ dưới nước
3.1.3.Tính tóan sóng xung kích khi nổ dưới nước
3.1.4.Tính toán xung bọt khí khi nổ dưới nước
3.1.5.Tính toán hư hại của tàu khi nổ do tiếp xúc dưới nước
3.1.6.tính toán hư hại của tàu khi nổ không tiếp xúc dưới nước
3.1.7.Dùng hệ số va đập xung kích trong khi mô tả lực nổ của thủy lôi dưới nước
3.2.Kích nổ
3.2.1.Những yêu cầu chung
3.2.2.Thiết kế các bước kích nổ
3.2.3.Những ví dụ tính tóan các bước kích nổ
Chương 4-Các thiết bị đo và các cơ cấu tác động
4.1.Cơ cấu thủy áp
4.1.1.Màng thủy áp
4.1.2.Lò xo thủy áp
4.1.3.đĩa và thanh thủy áp
4.2.Cơ cấu làm trễ kiểu cơ khí
4.2.1.Động cơ sơ cấp
4.2.2.cơ cấu truyền động
4.2.3.Cơ cấu điều tốc
4.2.4.Cơ cầu (biểu thị) cài đặt và cơ cấu hãm
4.3.Bộ phận làm trễ(định thời) cơ giới dùng đường và bộ phận làm trễ điện hóa
4.3.1.Bộ phận làm trễ dùng đường (hay dùng muối)
4.3.2.Bộ phận là mtrễ điện hóa
4.4.Cơ cấu phân ly bằng bi thép


Nguyễn Ngọc Linh viết về Chông Phong Tỏa miền Bắc

CHỐNG PHONG TỎA SÔNG BIỂN MIỀN BẮC

Nhân dịp đọc một số bài viết về thời kỳ này

Mới đây, tôi có nhận được bản chụp một số bài báo và tài liệu, được ra mắt và lưu hành từ nhiều tháng, năm trước, nói về công cuộc chống phong tỏa đường biển, đường sông bằng thủy lôi và bom từ trường.
Đọc "Thành phố chống phong tỏa", nhật ký của Hoàng Tuấn Nhã, phóng viên báo Nhân Dân viết từ 15-5-1972 đến 20-11-1972, tôi như sống lại thời kỳ thành phố Hải Phòng bị phong tỏa, bắt gặp lại hình ảnh của các chiến sĩ phá thủylôi Ty Bảo Đảm Hàng Hải dũng cảm, yêu đời, hình ảnh những chiếc tàu phá lôi hùng dũng tiến vào bãi thủy lôi và bom từ trường, hình ảnh những cột nước dâng cao và những âm thanh như những tiếng gào thét vô vọng vì không đánh trúng vào mục tiêu nào cả.
Một bài viết khác có một số chi tiết không chính xác như trong bài viết: "Tàu thủy phá bom không người lái", gọi thiết bị phá lôi PĐ-67 do Đường Biển sản xuất và cung cấp cho Đường Sông là BĐ-67 và giải thích là Bảo đảm giao thông 67. Thực ra PĐ-67 chỉ đơn giản là Phao đèn 67. Một chi tiết khác là cho nhóm nghiên cứu của Đường Sông có mật danh GK2 từ năm 1968. Cuối năm 1968 chiếc T5 đầu tiên được cho ra đời ở một xưởng đóng tàu Hải Phòng. Thực ra các mật danh GK (GK1, GK2, GK3) là do Bộ Giao thông Vận tải đặt ra để gọi các nhóm nghiên cứu của Đại học Bách khoa, Đường Sông, Đường Biển khi Đại học Bách khoa tham gia nghiên cứu từ tháng 7 năm 1972. Còn một chi tiết hơi quá là: "Nhờ có T5, các tuyến vận tải thủy qua các cửa sông (Nam Triệu, Cửa Cấm, Ba Lạt...) được thông suốt...".
Thực ra các tuyến vận tải này được thông suốt nhờ các thiết bị cơ động và mạnh hơn T5 gấp nhiều lần của nhiều đơn vị khác.
Các chi tiết không chính xác ở mức quên quên, nhớ nhớ tôi cho là chuyện bình thường, vì đã 35-40 năm rồi.
Nhưng bài báo "Vũ Đình Cự và tổ GK1" của tác giả Hàm Châu đăng trên Tạp chí Truyền hình VTV kỳ 1 tháng 5 năm 2007, không phải ở mức quên quên, nhớ nhớ mà là sự ngộ nhận và thổi phồng quá đáng những gì đã làm được, thậm chí nhận đã làm cả những việc mình không hề làm!
Tác giả Hàm Châu chỉ là người sắp xếp, trình bày những thông tin được cung cấp thành một bài báo. Đáng nói ở đây là những người cung cấp thông tin.
Tôi buồn và thất vọng về những thông tin không trung thực được cung cấp bởi những người làm công tác khoa học kỹ thuật.
Trước khi Đại học Bách khoa tham gia nghiên cứu về thủy lôi và bom từ trường (7-1972), thì từ năm 1968 ở Đường Biển và Đường Sông đã hình thành các nhóm nghiên cứu, chế tạo thiết bị phá thủy lôi. Thời kỳ 1967-1968, đội ràphá lôi của Đường Biển đã phá được một số lớn bom từ trường. Khi Đại học Bách khoa tham gia nghiên cứu thì mới đặt các biệt danh để tiện liên lạc (GK1: Bách Khoa, GK2: Đường Sông, GK3: Đường Biển). Mọi người trong cuộc đều biết rõ điều này. Nhưng người cung cấp thông tin đã cố tình chỉ kể có 2 tổ nghiên cứu là GK1 và GK2 được thành lập. Họ đã cố tình quên, vì quên sao được khi GK1 mới bước vào lĩnh vực này còn nhiều bỡ ngỡ thì GK3 là người cung cấp tất cả những hiểu biết của mình tích lũy được trên nguyên lý hoạt động của thủy lôi và bom từ trường, cũng như trong thực tế phá, tháo gỡ mà người trực tiếp nhất là đồng chí Thái Phong của Đường Biển. Đường Biển cũng chia sẻ những tài liệu được các đơn vị bạn khác cung cấp cho Bách Khoa khiến cho việc nghiên cứu của GK1 được thuân lợi và rút ngắn rất nhiều. Tôi nói cố tình quên, vì quên sao được những quả thủy lôi Đường Biển phá được, gắn liền với công sức của GK3 và các đội phá lôi của Đường Biển, sử dụng các phương tiện do Đường Biển độc lập thiết kế và chế tạo đã được tính đến là kết quả nghiên cứu của GK1 và bằng các phương tiện do GK1 thiết kế, chế tạo và cung cấp.
Bài báo viết: "Việc đầu tiên của tổ GK1 là để tìm hiểu thực tế phá bom thủy lôi. Tiến sĩ khoa học Vũ Đình Cự và một số cán bộ giảng dạy của Đại học Bách khoa cùng đi với ông Kha - Vụ trưởng Vụ Khoa học Kỹ thuật - Bộ Giao thông Vận tải xuống Hải Phòng, hỏi chuyện ông Kỳ - Cục trưởng Cục Đường Biển...".
"Hỏi chuyện...", chứ không phải là xin phép được tham gia nghiên cứu trên các quả MK-52 và MK-42 mà Đường Biển đã tháo gỡ được?
Tôi thấy có gì là bạc bẽo, khiếm nhã, xếch mé trong câu "Hỏi chuyện ông Kỳ". Người cung cấp thông tin quên rằng tư thế lúc đó mình là người đề nghị được hợp tác, được giúp đỡ để được nghiên cứu trên các đầu bom mà Đường Biển vừa tháo gỡ được. Người cung cấp thông tin cũng quên rằng những hợp tác nhiệt tình của Đường Biển là do ông Kỳ chỉ đạo. Sau này, tôi được biết thêm chi tiết là trước khi đến Đường Biển, Đại học Bách khoa đã đề nghị được tham gia nghiên cứu với Bộ Quốc phòng và Hải quân nhưng không được chấp nhận.
Những số liệu do GK1 nghiên cứu đến tay Đường Biển cũng là lúc thiết bị phá thủy mạnh nhất và hoàn chỉnh nhất của Đường Biển mang tên ĐB-72-3 đã được triển khai sản xuất.
Ngưỡng nổ của MK-52 mà GK1 đo được thì cường độ từ trường ĐB-72-3 phát ra mạnh gấp 5 lần ở cự ly an toàn cho phương tiện.
Bài báo lại có đoạn: "Kết quả này được nhóm chuyên đề kỹ thuật tự động sử dụng để thiết kế khí tài phá nổ...", và "... Các khí tài được đưa ra thử nghiệm tại hiện trường có tàu bè qua lại y như thật, ở cảng Chùa Vẽ và đảo Cát Hải (Hải Phòng) trước khi được sản xuất hàng loạt cung cấp cho các đội tàu phá thủy lôi ngành Giao thông Vận tải".
Chi tiết này hoàn toàn sai! Tôi khẳng định là GK1 không có thiết bị phá thủy lôi nào để mang ra thử ở Chùa Vẽ và Cát Hải.
Sự thực là sau khi sản xuất ra ĐB-72-3, Đường Biển mang ra thử ở Chùa Vẽ với các đầu nổ MK-52 và MK-42. Đường Biển có báo cho GK1 cùng tham gia thử, vì Đường Biển không có máy móc đo lường. Nhóm GK1 mang theo các máy đo lường, máy hiện sóng xuống Hải Phòng tham gia thử. Kết quả thử ở hiện trường rất tốt, đúng như mong muốn của chúng tôi.
Sau đó Đường Biển lại tiếp tục sản xuất một thiết bị tương tự có tên là ĐB-72-4 và mang ra thử ở Cát Hải cũng bằng đầu nổ MK-52 va MK-42. Chúng tôi lại cũng báo Đại học Bách khoa và GK1 cũng lại xuống Hải Phòng để tham gia thử.
Cả hai lần thử ở Chùa Vẽ và Cát Hải đều là thử thiết bị của Đường Biển. Cả hai lần thử này GK1 đều có báo cáo gửi Đường Biển, và Đường Biển cũng như Bách Khoa còn lưu giữ. Chùa Vẽ và Cát Hải không chứng kiến một cuộc thử thiết bị phá thủy lôi nào do GK1 thiết kế và chế tạo cả.
Một đơn vị giàu tiềm năng như Đường Biển cũng phải gồng mình lên mới sản xuất được có 2 chiếc để mang ra thử lần lượt ở Chùa Vẽ và Cát Hải thì làm sao GK1 có thể sản xuất hàng loạt để cung cấp cho các đơn vị ngành Giao thông Vận tải.
Thủy lôi và bom từ trường mà Đường Biển phá được trong thời kỳ 1972-1973 là cả một quá trình tích lũy, đúc rút kinh nghiệm và sự trao đổi giúp đỡ của nhiều đơn vị bạn và sự đào sâu, suy nghĩ của tập thể nhóm nghiên cứu.
Thật sai lầm khi ngộ nhận đó là kết quả nghiên cứu của GK1, thậm chí là nhờ các thiết bị do GK1 chế tạo và cung cấp.
Tôi không làm việc nhiều với GK1, nhưng thiết bị phá thủy lôi của GK1 tôi nhớ là mới chỉ thấy xuất hiện trên một tranh vẽ một chiếc thuyền buồm có lắp ở mũi một cuộn dây tròn dẹt.
Ngày 30-12-1972, Mỹ ngừng ném bom miền Bắc. Bài báo có đoạn: "Nhiệm vụ của tổ GK1 còn rất nặng nề - Phải mau lẹ chế tạo hàng loạt khí tài để quét nhanh, quét gọn, quét sạch thủy lôi và bom từ trường trên đường biển, đường sông và đường bộ".
Hải quân và Đường Biển giải quyết hậu quả phong tỏa trên sông, biển. Nhiệm vụ đó là tiếp tục phá những thủy lôivà bom từ trường còn sót lại và sau đó là thanh thải thủy lôi và bom từ trường mất hiệu lực.
Tôi thật ngỡ ngàng, vì không hiểu hàng loạt khí tài này là những khí tài gì và chúng được cung cấp cho những đơn vị nào?
Sau hỏi ra mới biết GK1 có làm một thiết bị giống như một chiếc bừa để phát hiện thủy lôi mất hiệu lực. Do thiết bị này quá xa vời thực tế nên đã không sử dụng được ngay trong lần thử đầu tiên khi thủy lôi ở biển.
Có lẽ các khí tài này được cung cấp cho các đơn vị giải quyết thủy lôi thả lạc trên bộ!
Mọi đóng góp dù nhỏ hay lớn vào cuộc chiến phá thủy lôi và bom từ trường đập tan âm mưu phong tỏa đường biển và đường sông đều đáng trân trọng và ghi nhận.
Nhắc lại chuyện xưa để cùng nhau tự hào và góp phần giáo dục các thế hệ sau. Nhưng nhắc lại mà thiếu chính xác và cố tình làm sai lệch vì động cơ cá nhân lại là phản tác dụng và rất đáng trách.

Nguyễn Ngọc Linh

Gặp mặt tháng Tư những người phá lôi tại Thành phố HCM

Nhân dịp tháng Tư lịch sử,những người Phá lôi năm xưa muốn họp mặt.Xin liên lạc Đỗ Thái Bình Samaser 292 Nguyễn Tất Thành Quận Tư ,08-39400073 và 098-886-4892

Nguyễn Ngọc Linh viết về phá lôi năm 1998

Chuyến phá thuỷ lôi năm âý

Vừa qua bác Lê văn Kỳ, nguyên Cục trưởng Cục Đường Biển,,người chỉ huy tối cao của ngành Đường Biển trong chiến dịch chống phong tỏa đường biển bằng thủy lôi của địch, có đến chơi và nói tôi viết một bài về chuyến đi thí nghiệm phá lôi bằng thiết bị tự thiết kế và chế tạo của ngành đường biển thành công lần đầu tiên tại cửa Lạch Giang (sông Ninh Cơ)

Chuyện đã hơn 30 năm rồi, khó nhớ lại mọi chi tiết nhưng đó là một kỷ niệm không bao giờ tôi quên về những năm tháng ác liệt của chiến tranh, những năm tháng mà đội ngũ trí thức trẻ cuả Cục Đường Biển hiến dâng cả trái tim,khối óc của mình cho sự nghiệp chống Mỹ cứu nước.

Ngay từ khi Mỹ thả những quả thủy lôi đầu tiên, tổ nghiên cưú cuả Cục Đường Biển được thành lập. Chúng tôi đã cho ra đời các thiết bị rà phá lôi PĐ-67/1, PĐ-67/2, PĐ-67/3

Mỗi thiết bị đều được mang ra hiện trường thí nghiệm và sau đó được cải tiến. Thiết bị sau mạnh hơn thiết bị trước

PĐ-67/3 là ống từ có lõi bằng tôn silic gọn nhẹ, hiệu lực gây nổ MK-42 ở cự ly 30-50m

Điều chúng tôi tâm đắc nhất là PĐ-67/3 đã được tự động hóa. Sau khi đóng điện, thiết bị tự dộng phóng ra các xung từ theo chu kỳ thiết kế. Từ xa ta có thể kiểm tra sự hoạt động của thiết bị qua một đèn tín hiệu.

Chúng tôi háo hức cùng tổ của đồng chí Thái Phong đi thử taị các nơi có thuỷ lôi ở các khu vực quanh thành phố. Các quả thuỷ lôi này đã được rà đi rà lại nhiều lần bằng tôn và nam châm nhưng đều không nổ. Khi đưa PĐ-67/3 đi rà cũng không có kết quả. Anh em bứt rứt, nghi ngờ hiệu lực của thiết bị.

Giữa lúc đó đồng chí Vũ Long Vân, phó ty Bảo Đảm Hàng Hải mang đến cho chúng tôi một tin vui: Anh em đã để phần cho chúng tôi 2 quả thuỷ lôi chưa bị rà phá bằng các phương tiện thô sơ. Vị trí đã được đánh dấu cẩn thận.

Theo sự phân công của tổ, tôi và đồng chí Trần Công Chánh haó hức chuẩn bị thiết bị và lên đường ngay. Lúc đó nhà tôi mới sinh cháu đầu được một tháng.Thời kỳ ấy chuyện gia đình là vô cùng nhỏ bé so với sự nghiệp chống Mĩ cứu nước vĩ đại của dân tộc.

Vào tới trạm 3,anh em cũng đã biết tin PĐ-67/3 đã thử ở Hải Phòng nhưng không làm nổ được quả nào nên cũng không được tin tưởng lắm.

Đồng chí Chánh và tôi làm phương án lắp đặt thiết bị trên thuyền và phương án triển khai thiết bị tại hiện trường

Chúng tôi dự tính chờ lúc nước đứng để triển khai. Đồng chí Chánh lo lắp đặt thiết bị sao cho chắc chắn và cân bằng để thuyền ổn định.Tôi lo đấu lắp phần điện sao cho bộ phận tự động làm việc tốt, ắc-qui đủ điện để cường độ từ trường phóng ra đảm bảo như tính toán.

Để chắc chắn, đồng chí Phương trạm 3 đã đưa anh Vân,anh Chánh và tôi ra hiện trường,kiểm tra nơi có thuỷ lôi và xác định phương án triển khai:

Thiết bị bố trí trên một thuyền gỗ,dùng một thuyền chèo kéo một bên đi theo phía giữa luồng,cách thuyền thiết bị 90m,một bên dùng người kéo đi trên bờ với đoạn dây dài 100m.

Trở về,chúng tôi hì hục cùng anh em trạm 3 lo lắp đặt thiết bị và triển khai ra hiện trường.

Cách khu vực thủy lôi 500m,chúng tôi đóng điện cho thiết bị hoạt động và triển khai kéo đưa thiết bị vào khu vực có thuỷ lôi.

Anh Vân,anh Chánh và tôi hồi hộp theo dõi thiết bị và đi lần theo trên bờ.Thuyền thiết bị đều đặn nhích về phía hai quả thủy lôi.Bỗng một cột nước đột ngột vút lên,kèm theo một tiếng nổ inh tai.Theo bản năng,tôi rụt cổ và kéo chiếc áo mưa vải bạt trùm kín đầu. Đất bùn rơi ào ào quanh chúng tôi.Sau phút bàng hoàng,chúng tôi ôm lấy nhau reo hò mà nước mắt lưng tròng vì đây là quả thủy lôi đầu tiên mà chúng tôi kích nổ bằng phương tiện chúng tôi thiết kế và chế tạo.Tôi không quên nhìn đồng hồ:lúc đó là 15 giờ 50 phút ngày 17 tháng 2 năm 1968.

Tôi phát hiện trên bờ cát không xa 1 mảnh thủy lôi lớn,kích thước 100x600mm.Tôi chạy tới định nhặt lên nhưng phải rụt tay lại ngay vì nó còn nóng bỏng.Sau,tôi có nhặt về để ở cơ quan làm lưu niệm.

Thủy lôi nổ cách thuyền khoảng gần 30m,thuyền chỉ hơi chao đảo nhưng vẫn an toàn,thiết bị vẫn tiếp thục hoạt động.

Thuyền tiếp tục tiến vào khu vưc có thuỷ lôi. Đến 16 giờ 15 phút,quả thứ 2 nổ,cách thuyền hơn 40m.Thuyền vẫn an toàn,thiết bị vẫn hoạt động tốt.

Do việc triển khai lần đầu nên có lúng túng.Thuyền thiết bị táp vào khu vực gần bãi thuỷ lôi.Phải ra ngắt điện khỏi thiết bị để đưa thiết bị ra khu vực an toàn.Ra ngắt điện lúc này rất nguy hiểm vì có thể có một số thủy lôi sau khi hết thời gian tạm ngừng sẽ trở lại trạng thái chiến đấu-gặp xung từ sẽ nổ,có thể rất gần,gây thương vong.

Tôi không nghĩ đến nguy hiểm mà chỉ lo cho sự an toàn của thiết bị nên đã chạy ra ngắt điện nhưng đúng lúc ấy, đồng chí Chánh đã ngăn tôi lại và anh nói: “Anh để tôi ra ngắt cho,nguy hiểm đấy.Anh vừa có con đầu lòng”.

Đến bây giờ tôi vẫn không quên được hình ảnh và lờì nói mộc mạc và thân thương ấy.Lúc ấy người ta sẵn sàng cho nhau cả mạng sống.

Đợt ra quân thí nghiệm này của chúng tôi kết quả thật tốt đẹp. PĐ-67/3 làm nổ được 7 quả thủy lôi. Sau đó cho tăng kít kiểm tra và thông luồng.

Sau đợt thí nghiệm thành công này chúng tôi được phép sản xuất 40 bộ PĐ-67/3 cung cấp cho các nơi, chủ yếu là đường sông và các bến phà.

Sau đó là những ngày nhận được tin vui từ khắp nơi có PĐ-67/3 rà phá: Số lượng thuỷ lôi được rà phá,số lượng tuyến luồng được thông, thời gian thông luồng ngày càng giảm.

Những khích lệ này đã chắp cánh cho chúng tôi để học hỏi, đúc rút kinh nghiệm, chế tạo được nhiều thiết bị rà phá thủy lôi mà đỉnh cao là ĐB-72/3, được anh em trìu mến,tin tưởng tặng danh hiệu “Vua rà phá”.

Hơn 30 năm đã qua, kể từ ngày thành công đầu tiên ấy, đất nước ta đã có biết bao thay đổi. Nhưng có cái không thay đổi: Chúng ta, dân tộc ta vẫn giữ nguyên được dũng khí hào hùng, trí thông minh sáng tạo,không sợ hy sinh gian khổ,sẵn sàng xả thân vì sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc thân yêu.

Tháng 9 năm 1998

Nguyễn Ngọc Linh

Thứ Bảy, 31 tháng 7, 2010

BÁO HÀ NỘI MỚI VIẾT VỀ GK1 NGÀY 21/01/2010


Gian trưng bày những thành tựu kỹ thuật của Viện Vật lý kỹ thuật tại triển lãm Techmart 2009. Ảnh: Bích Ngọc
Về nơi ra đời “GK1”
Theo Hà Nội Mới - 21/01/2010
Về nơi ra đời “GK1”
21/01/2010 06:59

(HNM) - Một trong những thành tựu khoa học công nghệ được Bộ KHCN điểm đến khi tổng kết 50 năm xây dựng và phát triển của ngành là đề tài phá thuỷ lôi từ tính và bom từ trường của đế quốc Mỹ mang mã số GK1.
(HNM) - Một trong những thành tựu khoa học công nghệ được Bộ KHCN điểm đến khi tổng kết 50 năm xây dựng và phát triển của ngành là đề tài phá thuỷ lôi từ tính và bom từ trường của đế quốc Mỹ mang mã số GK1.
Được mời lên diễn đàn trong hội nghị tổng kết để nói về công trình giúp tập thể các nhà khoa học của Khối Vật lý, tiền thân của Viện Vật lý kỹ thuật (ĐH Bách khoa Hà Nội) được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1, Giáo sư Vũ Đình Cự không nói nhiều về "GK1" mà dành thời gian quý giá để bày tỏ những mong mỏi đối với sự phát triển của KHCN nước nhà trong tương lai. Tâm huyết của vị giáo sư đáng kính đã thôi thúc tôi tìm về nơi cho ra đời "GK1".

Những cán bộ lãnh đạo Viện hiện nay khá bất ngờ trước sự xuất hiện của tôi, còn tôi sau một hồi tìm hiểu, cũng không khỏi ngạc nhiên trước sự đóng góp cho sản xuất và quốc phòng của các nhà khoa học ở đây thông qua các đề tài nghiên cứu. Hoá ra, không chỉ trong những năm chiến tranh và không chỉ với "GK1", kết quả nghiên cứu của các thầy, cô giáo đã được đưa vào phục vụ quốc phòng ngay trong thời bình và với nhiều sản phẩm có ý nghĩa, như điện mặt trời phục vụ chiến sĩ đảo Trường Sa, vật liệu từ và linh kiện dùng để sửa chữa, chế tạo khí tài cho bộ đội thông tin... Và không chỉ có phục vụ quốc phòng, nhiều sản phẩm của trí tuệ và tâm huyết được sinh ra trong các phòng thí nghiệm với trang thiết bị hiện đại đã vào các trường học và nhiều ngành sản xuất.

Có thể kể đến là các bộ thí nghiệm vật lý cho gần 100 trường ĐH, CĐ kỹ thuật, hàng nghìn trường trung học phổ thông hay những thiết bị rất gần với cuộc sống, như máy khử trùng thực phẩm cho rau quả bằng khí ozone... Khó có thể kể một cách cụ thể về những kết quả nghiên cứu của Viện mà chỉ có thể gói gọn bằng mấy con số: trong 25 năm chủ trì hơn 50 đề tài cấp nhà nước, hàng chục đề tài cấp bộ, 10 dự án sản xuất thử; công bố gần 1.000 công trình trên các tạp chí chuyên ngành, hội nghị khoa học quốc gia và quốc tế; hằng năm công bố khoảng 20 bài báo trên các tạp chí có uy tín trên thế giới.

Là cơ sở đầu tiên đào tạo kỹ sư vật lý, lại mang mô hình viện trong trường đại học chưa từng có ở nước ta, nhưng Viện Vật lý kỹ thuật đã thành công ở cả 2 nhiệm vụ chính: nghiên cứu khoa học và đào tạo. Cơ sở để làm nên thành công đó được những người đương thời lý giải là nhờ truyền thống của một bộ môn ra đời từ những ngày đầu thành lập Trường ĐH Bách khoa Hà Nội vào năm 1956 với những người thầy tên tuổi, như Bùi Ngọc Quỳnh, Lê Băng Sương, Lương Duyên Bình, Vũ Thanh Liêm, Nguyễn Hữu Hồ, Dư Chí Công, Vũ Đình Cự, Nguyễn Xuân Chánh và sự năng động khi gắn được đào tạo với nhu cầu xã hội. Nối tiếp truyền thống của thế hệ đi trước, hiện 86 cán bộ của viện có 3 GS, 10 PGS, 24 tiến sĩ và tiến sĩ khoa học, 29 thạc sĩ. Ở đây, các cán bộ trẻ luôn được quan tâm, tạo điều kiện để nâng cao trình độ và được làm việc trong môi trường nghiên cứu. Có lẽ bởi thế, Viện đã thu hút được nhiều người tài, mới đây nhất là tiến sĩ mới 27 tuổi Nguyễn Ngọc Tuấn, người được Giáo sư Kopaev Yuri Vasilevich, Viện sĩ Thông tấn Viện Hàn lâm Khoa học Nga, Giám đốc Phân viện Vật lý chất rắn thuộc Viện Vật lý mang tên Lebedev đánh giá là một tài năng hiếm có trong lĩnh vực vật lý và mời ở lại làm việc tại Liên bang Nga.

Vật lý kỹ thuật là một ngành kỹ thuật cao, mang tính liên ngành với nội dung đào tạo không trùng lắp với các khoa đào tạo truyền thống. Sinh viên của Viện được cung cấp những kiến thức khoa học cơ bản về khoa học vật lý và các công cụ toán - tin học để vừa có khả năng độc lập nghiên cứu, vừa có kỹ năng vận dụng thực hành công nghệ trong chuyên ngành được đào tạo, có kiến thức tổng quan về các liên ngành liên quan đủ sức nắm bắt được các công nghệ mới. Bởi thế, sau khi ra trường, họ đã phát huy tốt trên các cương vị công tác tại nhiều cơ sở đào tạo, nghiên cứu, xí nghiệp, doanh nghiệp...

Những thành công trên là tiền đề để Viện Vật lý kỹ thuật trở thành viện nghiên cứu và đào tạo mạnh trong một trường ĐH công nghệ trọng điểm - Trường ĐH Bách khoa Hà Nội. Đây là điều sẽ không còn khiến tôi phải ngạc nhiên.

Thứ Ba, 27 tháng 7, 2010

CẦN ĐƯA RA TRƯNG BÀY CHIẾC TÀU TANKIST LỊCH SỬ

Trong các hiện vật của Bảo Tàng Cách Mạng Việt Nam có một hiện vật quý hiếm ,đó là cả một chiếc tàu to lớn ,hiện đang được bảo quản tại Cảng sông Ninh Bình.Đó là chiếc tàu tankist ,dân ta thường gọi là tăng –kích ,một loại tàu chở xe tăng có nhiều chiến công trong cuộc chiến tranh vừa qua.để tìm hiểu về con tàu này ta thử đọc cuốn Bách Khoa Hàng Hải và Đóng Tàu :

“Tàu tankist há mồm – tàu đổ bộ có sức chở một xe tăng T-54 (vì thế quen gọi là tàu tăng kích há mồm,tên gọi có lẽ xuất phát từ tankist- танкист- tiếng Nga là chiến sĩ lái xe tăng) hay 20 lính hay 50 tấn hàng ,thuộc loại десантный катер,kích thước dàix rộng x cao x mớn nước LxBxHxT =20,5 x 5,6 x 2,06x1,22 mét,đặt hai máy 3Д12 do nhà máy đóng tàu Azov (Азовская судоверфь ,trên sông Đôn,gần biển Azov nước Nga) chế tạo.Ngoài ra Trung Quốc cũng chế tạo theo thiết kế tương tự.Được Liên Xô và Trung Quốc viện trợ vào những năm 60 cho Hải Quân và Cục Vận Tải Biển,các tàu này ngoài nhiệm vụ rút hàng nhanh từ các tàu vào cảng, còn làm các nhiệm vụ sau đây:
1/Vận chuyển xe tăng cho các chiến dịch
2/Sử dụng tốc độ cao để phá lôi bằng cách dũng cảm lướt nhanh vào bãi thủy lôi để kích nổ và thoát nhanh ra ngoài.điển hình là trường hợp tàu mang số hiệu 154 với thuyền trưởng Dương Hải Rê
3/Dùng con tàu làm lõi từ để quấn cuộn dây kích từ ,biến con tàu thành tàu rà phá lôi.Có ba phương án đã được thực hiện
A) tàu rà phá lôi số hiệu 160 của Cục Vận Tải Biển ,mang thiết bị phá lôi ký hiệu ĐB 72-3 ,với một cuộn dây bọc ngoài con tàu,và máy phát điện một chiều.Con tàu dưới sự chỉ huy của thuyền trưởng Vũ Đình Kính đã phá nổ 161 thủy lôi các loại
B) tàu rà phá lôi mang số hiệu V 412 và sáu tàu tiếp theo cùng lớp mang số hiệu V 414,V 416,V 418,V 420,V422,V 409 thuộc Trung đòan 701 Hải Quân trang bị hai cuộn dây bọc ngoài tàu ,hai máy phát điện một chiều .Ngày 21/07/1972 tàu V 412 đã phá nổ thủy lôi đầu tiên
C) tàu rà phá lôi mang số hiệu 173 của Cục Vận Tải Biển trang bị thiết bị ĐB 72-4 tức là cuộn dây đặt trong lòng con tàu và máy phát điện xoay chiều,cấp dòng một chiều qua bộ chỉnh lưu do Đại Học Bách Khoa thiết kế và cung cấp .Khi con tàu hoàn tất ,cuộc chiến tranh chống phong tỏa đã kết thúc
Hiện nay,tại Bảo Tàng Cách Mạng Việt Nam còn lưu giữ một chiếc tàu tankíst mang số hiệu 173
Những thuyền trưởng lái tàu tankist chở xe tăng :
1/Nguyễn Mạnh Trinh
2/Lê Nhật Quang
3/Nguyễn Bá Trí
4/Trần Đức Thịnh
5/Nguyễn Ngọc Hùng
6/Hồ Thái Hùng
7/Trần Văn Yên
8/Nguyễn Duy Hồ

Những thuyền trưởng lái tàu tankist lướt phá lôi:
1/Dương Hải Rê
2/Nguyễn Duy Hồ
3/Nguyễn Mạnh Trinh
4/Nguyễn Ngọc Hùng”
(hết trích dẫn )
Trao đổi bằng điện thoại với Trưởng Phòng Hành Chính Cảng Ninh Bình ngày 20/07/2010.chúng tôi được biết Cảng vẫn cố gắng bảo quản tốt con tàu,che mưa che nắng nhưng yêu cầu chủ tàu –tức Bảo Tàng Cách Mạng Việt Nam-cần cho sơn sửa,bảo quản ,nếu không tàu xuống cấp rất nhanh.Là người nghiên cứu,lập hồ sơ về các con tàu này,chúng tôi cho rằng đây là hiện vật duy nhất còn lại nguyên vẹn ,phản ảnh một thời chiến tranh hào hùng về chống phong tỏa,mà các thế hệ trẻ cần được biết.Chúng tôi mong Bảo Tàng nghiên cứu và có biện pháp bảo quản tốt,nhanh chóng đưa hiện vật ra trưng bầy .
Đỗ Thái Bình
Kỹ sư đóng tàu

TƯỞNG NHỚ GIÁO SƯ TẠ QUANG BỬU

Chúng ta vừa long trọng kỷ niệm 100 năm ngày sinh của cố giáo sư Tạ Quang Bửu,một nhà khoa học yêu nước ,đã có nhiều đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước.Với lòng tôn kính giáo sư,một nhà trí thức tiêu biểu,với những hiểu biết về cuộc sống giản dị ,không màng danh lơi của giáo sư mà bản thân người viết cũng có một số mối quan hệ gia đình,tôi muốn nói rằng chúng ta cần đinh chính lại những sai sót có thể do quá yêu mến giáo sư hay do nhiều động cơ khác nhau viết sai lệch về tiểu sử của Người.Là một người nghiên cứu về cuộc chiến tranh chống phong tỏa vừa qua,tôi muốn nhắc lại việc giáo sư tham gia cuộc chống phong tỏa như thế nào,có phải như trang Bách Khoa mở Wikipedia hay nhiều ý kiến cho rằng :
“…..Ngoài công tác giáo dục, ông vẫn tham gia hoạt động trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật quân sự. Mùa hè năm 1972,Tổng thống Mỹ Richard Nixon ra lệnh thả thủy lôi trên sông biển và phong toả cảng Hải Phòng. Ông đã trực tiếp chỉ đạo một tổ nghiên cứu thiết kế, chế tạo khí tài phá thuỷ lôi (mật danh GK1) để chống lại thủy lôi chiến lược MK 52 của Mỹ, khí tài phá bom từ trường (mật danh GK2) do Tiến sĩ Vũ Đình Cự làm tổ trưởng.”
Như ta đều biết,để ngăn chặn việc tiếp viện cho cuộc chiến tranh giải phóng,ngay từ năm 1967,Mỹ đã thực hiện cuộc chiến tranh phong tỏa các cảng miền Bắc,chủ yếu là cảng Hải Phòng bằng thủy lôi ,một cuộc chiến tranh thủy lôi lớn nhất trong lịch sử theo đánh giá của họ (hai cuộc chiến kia là trận phong tỏa Incheon trong chiến tranh Triều Tiên và cuộc phong tỏa trong chiến tranh Iraq).Kết quả là chúng ta đã chiến thắng,vẫn giữ vững được tuyến đường vận tải giải tỏa hàng ra khỏi cảng Hải Phòng trong các chiến dịch VT05,vẫn tiếp tế cho cuộc chiến tranh giải phóng dẫn tới thắng lợi lịch sử 30/04/1975,thống nhất đất nước.Chiến thắng thủy lôi,công đầu trước hết phải thuộc về những người làm nghề vận tải sông biển ,đã tự mình tìm cách đánh phá các vũ khí thủy lôi của địch,với sự hướng dẫn của các lực lượng công binh và hải quân,một ví dụ hùng hồn về cuộc chiến tranh nhân dân vừa qua .Đó là những người làm nghề chài lưới phát hiện thủy lôi,là những cô gái làm nhiệm vụ đếm bom,là những kỹ sư tốt nghiệp đại học Bách Khoa hay Giao Thông-những học trò trực tiếp hay gián tiếp của giáo sư Bửu-đã thiết kế ra các tàu thuyền mang khí tài phá bom tự chế,là những thủy thủ gan dạ -từ người vận tải trở thành chiến sĩ phá lôi không đeo quân hàm-điều khiển các con tàu có ống phóng từ xông xáo giữa các bãi lôi dày đặc…Chỉ tới tháng 7 năm 1972,được sự đồng ý của Cục Trưởng Cục Vận Tải Đường Biển,những thầy giáo của Trường Bách Khoa mới bắt tay vào nghiên cứu thủy lôi và Cục đã cử người hướng dẫn ,thuyết minh và đem cả mẫu bom lên Hà Nội cho Trường nghiên cứu.Nhận được một số kết quả rất hạn chế của Trường như chiếc bừa bãi bom,bản tính cuộn dây từ trường,thiết kế hệ nắn điện một chiều…tất cả đều không được áp dụng trong thực tế của Đường Biển và cuộc chiến phong tỏa đã kết thúc .Điều đáng tiếc là do nhiều lý do trục trặc về thông tin (?),tất cả dư luận đều được hiểu sai lệch ,hình như mô hình cuộc chống chiến tranh phong tỏa vừa qua là khoa học kỹ thuật đã được nghiên cứu từ trên,thông qua triển khai áp dụng,đã hướng dẫn cho đường biển và hải quân giành được thắng lợi .Và tấm biển hiện nay tại Trường Bách Khoa còn ghi rõ:” Đề tài GK1 Giải thưởng Hồ Chí Minh
Năm 1972, tại ngôi nhà này, các nhà khoa học trường Đại học Bách Khoa Hànội đã nghiên cứu thành công phương pháp rà phá thủy lôi từ tính và bom từ trường (Đề tài GK1) kịp thời phục vụ chiến đấu chống lại âm mưu phong tỏa Cảng Hải Phòng, đường sông, đường biển và các huyết mạch giao thông của ta.”
Để thiết thực tưởng nhớ tới giáo sư Tạ Quang Bửu ,tôi đề nghị:
1/Việc một số người cố tình gắn tên giáo sư với cuộc chiến chống phong tỏa là có mục đích cá nhân,không lành mạnh.Cần có một hội thảo khoa học thực sự về đề tài mày vì các chứng nhân hiện còn sống:Cục Trưởng Đường Biển,các kỹ sư và công nhân chế tạo các thiết bị phá lôi của Đường Biển và Hải Quân ,các thày giáo của Bách Khoa
2/Xin kêu gọi lòng dũng cảm,trung thực của các thày giáo Bách Khoa,trước hết là giáo sư Vũ Đình Cự nên mạnh dạn trình bày sự thật trước công luận,đừng để mang tiếng là đạo văn trong khoa học,nhất là lại cố đưa hình ảnh của giáo sư Bửu đáng kính vào trong công việc của mình.Cần gỡ ngay tấm biển tại Bách Khoa để thế hệ trẻ hiểu đúng sự thật,không nghĩ xấu về các thày giáo của mính !
ĐỖ THÁI BÌNH
Tác giả “Bách khoa Đóng Tàu và Hàng Hải”